Mật Mã Da Vinci

Chương 41



Sophie cảm thấy trống rỗng khi lắng nghe tiếng nạng lách cách của Teabing nhỏ dần trong hành lang. Tê dại, cô quay lại và đối mặt với Langdon trong phòng khiêu vũ vắng tanh. Ông lắc đầu như thể đọc thấy ý nghĩ của cô.

“Không, Sophie”, ông thầm thì, đôi mắt vỗ về trấn an, “cũng ý nghĩ đó đến trong đầu tôi khi tôi hiểu ra rằng ông cô cũng ở trong Tu viện Sion, và cô nói rằng ông muốn nói cho cô nghe một bí mật về gia tộc cô. Nhưng điều đó là bất khả”. Langdon ngừng lại một lát. “Saunière không phải là một họ thuộc hệ Merovingien”.

Sophie không biết chắc mình nên cảm thấy nhẹ nhõm hay thất vọng. Trước đó, Langdon có hỏi qua một câu không bình thường về cái tên thời con gái của mẹ cô. Chauvel. Bây giờ, cô mới hiểu tại sao ông hỏi vậy. “Còn cái tên Chauvel?” Cô hỏi một cách lo lắng.

Ông lại lắc đầu: “Tôi rất tiếc. Tôi biết điều đó sẽ giải đáp một vài câu hỏi cho cô. Chỉ có hai nhánh trực hệ của dòng họ Merovingien là còn duy trì. Hai họ đó là Plantard và Saint-Clair.

Cả hai tộc này vẫn sống lẩn trốn, có lẽ dưới sự che chở của Tu viện Sion”.

Sophie thầm nhắc lại những họ này trong óc rồi lắc đầu.

Không một ai trong gia đình cô mang họ Plantard hay Saint-Clair. Một con sóng ngầm mệt mỏi như đang co kéo cô. Cô chợt nhận ra, so với lúc ở Louvre, cô vẫn chưa tiến gần thêm tới cái đích là hiểu xem sự thật mà ông cô muốn tiết lộ cho cô biết là cái gì. Sophie ước gì ông cô chưa bao giờ nhắc tới gia đình cô chiều hôm đó. Ông đã khơi mở lại những vết thương cũ tới nay vẫn còn đau đớn như bao giờ. Họ đã chết Sophie. Họ không thể quay trở lại. Cô chợt nghĩ đến người mẹ hằng đêm hát ru cô ngủ, người bố kiệu cô trên vai, người bà và đứa em trai đang cười với cô với đôi mắt xanh nồng nhiệt. Tất cả đã bị cướp mất. Chỉ còn lại độc trọi người ông.

Và bây giờ ông cũng đã ra đi. Còn trơ lại một mình mình.

Sophie lặng lẽ quay trở lại bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng, chăm chú nhìn mái tóc đỏ dài và đôi mắt tĩnh lặng của Magdalene. Có một cái gì đó trong vẻ mặt của người phụ nữ gợi đến nỗi mất mát một người thân yêu. Sophie cũng cảm thấy điều đó.

“Robert?” Cô khẽ gọi.

Ông bước lại gần.

“Tôi biết Leigh nói rằng câu chuyện về Chén Thánh ở khắp quanh ta, nhưng tối nay là lần đầu tiên tôi nghe thấy những điều này”.

Langdon có vẻ như muốn đặt một bàn tay an ủi lên vai cô nhưng tự kiềm chế lại: “Cô đã nghe câu chuyện về bà ấy trước đây, Sophie. Tất cả mọi người đều đã nghe. Có điều, khi nghe, chúng ta không nhận chân ra đấy thôi”.

“Tôi không hiểu”.

“Chuyện Chén Thánh có ở tất cả mọi nơi nhưng bị che giấu. Khi Nhà Thờ cấm nói về việc Mary Magdalene bị xa lánh thì câu chuyện và tầm quan trọng của bà ấy lại được lưu truyền qua những kênh kín đáo hơn… những kênh nuôi dưỡng phép ẩn dụ và chủ nghĩa tượng trưng”.

“Tất nhiên. Các môn nghệ thuật”.

Langdon chỉ bức Bữa ăn tối cuối cùng: “Một ví dụ hoàn hảo. Một số tác phẩm mỹ thuật, văn học, âm nhạc lâu bền nhất còn lại cho đến ngày nay đã kín đáo kể lại câu chuyện giữa Mary Magdalene và Jesus”.

Langdon kể nhanh cho cô nghe về những tác phẩm của Da Vinci Botticelli, Poussin, Bernini, Mozart và Victor Hugo, tất cả đều thầm thì điều gì đó về cuộc tìm kiếm để phục hồi lại địa vị cho người phụ nữ thần thánh bị xua đuổi. Những truyền thuyết trường tồn như Ngài Gawain và Hiệp sĩ Green, Vua Arthur và nàng công chúa ngủ trong rừng. đều là những ngụ ngôn về Chén Thánh. Tác phẩm Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà của Victor Hugo và Cây sáo kỳ diệu, của Mozart đầy những biểu tượng của hội Tam Điểm và bí mật Chén Thánh.

“Một khi cô mở mắt mở lòng với Chén Thánh”, Langdon nói, “cô sẽ thấy Magdalene hiện diện ở khắp nơi. Hội hoạ, âm nhạc, sách. Thậm chí cả trong phim hoạt hình, công viên giải trí theo chủ đề và những bộ phim nổi tiếng”.

Langdon đưa chiếc đồng hồ chuột Mickey ra làm ví dụ và nói với cô rằng Walt Disney đã xác định sự nghiệp của cuộc đời lặng lẽ của mình là lưu truyền câu chuyện Chén Thánh cho các thế hệ tương lai. Trong suốt toàn bộ cuộc đời mình, Disney đã được hoan nghênh như một “Leonardo Da Vinci hiện đại”. Cả hai đã đi trước thời đại của họ tới mấy thế hệ, là những nghệ sĩ có tài năng vô song, hội viên của những hội kín, và đáng chú ý nhất, những người ham thích đùa nghịch. Giống như Leonardo, Walt Disney rất thích lồng những thông điệp và biểu tượng ẩn tàng vào trong nghệ thuật của mình. Đối với những nhà kí tượng học được đào tạo, xem một bộ phim của Disney cũng giống như đứng trước một con thác ào ào những ám chỉ và ẩn dụ.

Hầu hết những thông điệp ẩn giấu của Disney đều liên quan tới tôn giáo, huyền thoại thế tục và những câu chuyện về nữ thần bị khuất phục. Đâu phải vì lầm lẫn mà Disney đã kể lại theo cách mới những câu chuyện như Lọ Lem, Nàng công chúa ngủ trong rừng và Bạch Tuyết – tất cả đều đề cập đến việc hạ ngục tính nữ thiêng liêng. Cũng không cần thiết phải có kiến thức về chủ nghĩa tượng trưng để hiểu được rằng Bạch Tuyết – nàng công chúa bị thất sủng sau khi ăn quả táo tẩm độc – là một ám chỉ rành rành đến sự sa ngã của Eve trong vườn Địa đàng. Hoặc trong Người đẹp ngủ trong rừng, Công chúa Aurora – mật danh là “Hoa Hồng” – được che giấu trong rừng để bảo vệ nàng khỏi nanh vuốt của mụ phù thuỷ độc ác, chính là câu chuyện Chén Thánh cho trẻ con.

Mặc dù hình ảnh mang tính tập thể, hãng Disney vẫn có được một yếu tố khôn ngoan và tinh nghịch trong các nhân viên và các hoạ sĩ của họ vẫn tiêu khiển bằng cách lồng những biểu tượng ẩn giấu vào trong các sản phẩm Disney. Langdon sẽ không bao quên chuyện một sinh viên của ông mang đến lớp một đĩa DVD phim hoạt hình Vua sư tử và cho dừng hình để chỉ ra một khuôn hình tĩnh trong đó từ SEX (giới tính, tình dục) hiện rõ mồn một, được tô đậm bởi đám bụi bồng bềnh trên đầu của Simba. Mặc dầu Langdon ngờ rằng đấy chỉ là trò tinh nghịch kiểu học sinh của một nhà làm phim hoạt hình chứ không phải bất kì cách bóng gió thông minh nào nhằm vào dục tính thế tục của con người, ông cũng đã học được cách không đánh giá thấp khả năng nắm vững biểu tượng của Disney. Nàng tiên cá là một tấm thảm hút hồn với những biểu tượng tâm linh liên quan với giới nữ thần một cách cụ thể đến nỗi không thể là trùng hợp ngẫu nhiên được.

Lần đầu tiên xem Nàng tiên cá, Langdon đã thực sự hức lên thành tiếng khi nhận thấy bức tranh trong ngôi nhà dưới nước của Ariel không phải là gì khác ngoài tác phẩm Magdalene sám hối của hoạ sĩ Georges de la Tour thế kỷ XVII – một sự tôn vinh trứ danh dành cho Mary Magdalene – một nét trang trí phù hợp vì bộ phim dài chín mươi phút này hoá ra là một tác phẩm collage với những biểu tượng rành rành quy chiếu về tính thần thánh bị tước đoạt của những Isie, Eva, Pisces, và lặp đi lặp lại nhiều lần, Mary Magdalene. Tên của nàng tiên cá, Ariel, có những ràng buộc chặt chẽ với tính nữ thiêng liêng và, trong Sách của Isaiah, nó đồng nghĩa với “Thánh địa bị bao vây”. Tất nhiên, mái tóc đỏ mềm mại của nàng tiên cá chắc chắn cũng không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Tiếng nạng lách cách của Teabing trong hành lang tiến lại gần, bước chân ông nhanh nhẹn một cách không bình thường. Khi chủ nhân bước vào phòng làm việc, vẻ mặt ông nghiêm nghị.

“Anh nên có lời giải thích, Robert”, Teabing lạnh lùng nói, “Anh đã không trung thực với tôi”.

“Tôi bị oan, Leigh”, Langdon nói, cố gắng giữ bình tĩnh, “Ngài biết rõ con người tôi mà. Tôi không phải hạng giết người”.

Giọng Teabing không hề dịu đi: “Robert, anh đang trên tivi, lạy Chúa. Anh có biết nhà chức trách đang truy lùng anh không? Anh đã lạm dụng lòng tin của tôi. Tôi rất ngạc nhiên là anh nỡ đặt tôi vào tình thế nguy hiểm bằng cách đến đây và đòi tôi nói lan man về Chén Thánh để anh có thể ẩn náu trong nhà tôi”.

“Tôi không giết ai cả”.

“Jacques Saunière đã chết, và cảnh sát nói rằng anh làm điều đó”, Teabing nói, vẻ buồn bã. “Một người đóng góp cho nghệ thuật như vậy mà…”.

“Thưa ngài?” Người hầu lúc này đã xuất hiện, đứng ngay sau Teabing trong khung cửa phòng làm việc, cánh tay khoanh lại.

“Tôi chỉ cho họ lối ra chứ?”.

“Để tôi”, Teabing tập tễnh bước ngang qua phòng làm việc, mở khóa một loạt cánh cửa kính lớn; cửa mở chúng ra một bãi cỏ cạnh nhà. “Hãy lấy xe của anh, và đi đi!”.

Sophie không hề nhúc nhích: “Chúng tôi có thông tin về clef de voute – viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion”.

Teabing nhìn cô chằm chằm trong vài giây và cười giễu cợt:

“Một mánh khoé vớt vát. Robert biết tôi đã tìm kiếm nó như thế nào”.

“Cô ấy nói thật đấy”, Langdon nói. “Đó là lí do tại sao chúng tôi đến gặp ngài tối nay. Để nói cho ngài biết về viên đá đỉnh vòm”.

Người quản gia xen vào: “Đi đi, kẻo tôi sẽ gọi nhà chức trách”.

“Leigh”, Langdon thì thầm, “chúng tôi biết nó ở đâu”.

Teabing hơi ngập ngừng.

Rémy cứng cỏi dấn bước ngang qua căn phòng: “Đi ngay? Kẻo tôi buộc…”.

“Rémy?”, Teabing quay lại, gắt người quản gia. “Hãy để riêng chúng tôi một lát”.

Người phục vụ há hốc mồm: “Thưa ngài? Tôi buộc phải phản đối những người này…”.

“Tôi sẽ xử lý việc này”, Teabing chỉ ra phía hành lang.

Sau một lát im lặng sửng sốt, Rémy lủi ra như một con chó bị xua đuổi.

Làn gió mát nhẹ buổi tối ùa vào qua cánh cửa mở rộng, Teabing quay lại phía Sophie và Langdon, vẻ mặt vẫn cảnh giác:

“Tốt hơn là hãy biết điều. Các bạn biết gì về viên đá đỉnh vòm?”.

***

Trong bụi cây dầy bên ngoài phòng làm việc của Teabing, Silas nắm chặt khẩu súng lục và nhìn chằm chằm qua cánh cửa kính.

Chỉ cách đây một lát thôi, hắn đã đi vòng quanh ngôi nhà và thấy Langdon cùng người phụ nữ đang trò chuyện trong phòng làm việc rộng thênh thang. Trước khi hắn kịp vào trong, một người đi nạng đã bước vào, lớn giọng với Langdon, mở cửa và yêu cầu các vị khách rời đi. Sau đó người phụ nữ nhắc tới viên đá đỉnh vòm, và tất cả mọi sự đã thay đổi. Tiếng quát tháo biến thành những tiếng thầm thì. Bầu không khí dịu xuống. Và những cánh cửa kính mau chóng được đóng lại.

Bây giờ, ngồi co ro trong bóng tối, Silas dòm qua cánh cửa.

Viên đá đỉnh vòm ở đâu đó trong ngôi nhà. Silas có thể cảm thấy điều đó Vẫn trong bóng tối, hắn nhích lại gần cửa kính, háo hức nghe xem họ đang nói chuyện gì. Hắn sẽ để cho họ năm phút. Nếu họ không hé lộ nơi họ giấu viên đá đỉnh vòm, Silas sẽ phải vào và thuyết phục họ bằng vũ lực.

Bên trong phòng làm việc, Silas có thể thấy thái độ hoang mang của người chủ.

“Đại sư?”, Teabing tắc nghẹn, ông nhìn Sophie. “Jacques Saunière?”.

Sophie gật đầu, thấy rõ vẻ bị sốc trong mắt ông.

“Nhưng cô không cách nào biết được điều đó?”.

“Jacques Saunière là ông tôi”.

Teabing loạng choạng lùi lại trên đôi nạng, phóng một cái nhìn về phía Langdon, ông này gật đầu. Teabing quay trở lại phía Sophie: “Thưa cô Neveu, tôi không còn biết nói sao. Nếu quả thực là thế, thì tôi xin thành thật chia buồn với cô. Tôi xin thú thực rằng, trong cuộc tìm kiếm của mình, tôi đã lên danh sách những người ở Paris, những người mà tôi nghĩ có thể dính líu với Tu viện Sion. Jacques Saunière cũng ở trong danh sách này cùng với nhiều người khác nữa. Nhưng là Đại Sư, cô nói vậy ư? Thật khó lường”. Teabing yên lặng một lát và sau đó lắc đầu “Nhưng vẫn chưa rõ ràng lắm. Thậm chí nếu ông cô là Đại Sư của Tu viện và chính bản thân ông đã tạo ra viên đá đỉnh vòm thì ông cũng sẽ không bao giờ nói cho cô biết cách làm thế nào để tìm thấy nó. Viên đá đỉnh vòm tiết lộ đường dẫn tới kho báu tối hậu của hội kín này. Dù có là cháu gái hay không, cô cũng không thể được chọn để nhận loại thông tin như vậy”.

“Ông Saunière đang hấp hối khi ông truyền lại thông tin này”, Langdon nói, “Ông chẳng còn mấy lựa chọn”.

“Ông ấy không cần lựa chọn”, Teabing cãi. “Có ba ssénéchal cũng biết về bí mật này. Đó là cái hay trong hệ thống của họ.

Khi một trong ba người đó lên chức Đại Sư, họ sẽ bổ nhiệm một pháp quan mới và cùng chia sẻ bí mật về viên đá đỉnh vòm”.

“Tôi đoán là ông không xem toàn bộ bản tin phát thanh”, Sophie nói, “Cùng với ông tôi, ba người Paris lỗi lạc khác cũng đã bị sát hại hôm nay. Tất cả đều theo cùng một cách. Tất cả đều có vẻ như đã bị tra hỏi”.

Cằm Teabing trễ xuống: “Và cô nghĩ họ là…”.

“Những pháp quan”, Langdon nói.

“Nhưng bằng cách nào? Một tên sát thủ không cách nào biết được nhân thân của tất cả bốn thành viên đứng đầu Tu viện Sion! Hãy xem tôi đây, tôi đã tìm kiếm họ hàng thập kỉ nay, và tôi thậm chí không biết tên một thành viên nào của Tu viện Sion. Thật khó có thể tin rằng cả ba pháp quan và Đại Sư lại có thể bị phát hiện và giết trong cùng một ngày”.

“Tôi không tin rằng thông tin này được thu thập chỉ trong một ngày”, Sophie nói. “Nó có vẻ giống như một cú decapiter (1) đã được lên kế hoạch cẩn thận. Đó là một kỹ thuật chúng tôi thường dùng để đánh những nghiệp đoàn tội phạm có tổ chức.

Nếu DCPJ muốn xoá sổ một băng nào đó, họ sẽ lặng lẽ nghe ngóng và theo dõi trong nhiều tháng liền, xác định tất cả những tên đầu sỏ, rồi sau đó mới vào cuộc và bắt cả bọn cùng một lúc.

Đó là chặt đầu. Không còn thủ lĩnh, băng sẽ hỗn loạn và để lộ những thông tin khác nữa. Có thể là một kẻ nào đó đã kiên nhẫn theo dõi Tu viện Sion và sau đó mới tấn công với hy vọng những người đứng đầu sẽ tiết lộ nơi giấu viên đá đỉnh vòm”.

Teabing có vẻ vẫn chưa tin: “Nhưng những thành viên khác sẽ không bao giờ nói. Họ đã thề giữ bí mật. Thậm chí cả khi đối mặt với cái chết”.

“Chính xác”, Langdon nói. “Nghĩa là, nếu họ không tiết lộ bí mật, và họ bị giết…”.

Teabing há hốc miệng: “… thì viên đá đỉnh vòm sẽ bị mất vĩnh viễn?”.

“Và cùng với nó”, Langdon nói, “là cả Chén Thánh”.

Thân hình Teabing như chao đảo dưới trọng lượng những lời của Langdon. Rồi, như thể quá mệt mỏi để đứng lâu hơn nữa, ông buông mình trên chiếc ghế, nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ.

Sophie bước tới, giọng êm dịu: “Xét tình thế gay go của ông tôi rất có thể là trong hoàn toàn tuyệt vọng ông đã cố gắng truyền lại bí mật cho một ai đó ngoài hội kín của mình. Một ai đó mà ông nghĩ là mình có thể tin cậy trong gia đình ông”.

Mặt Teabing tái đi: “Nhưng cái kẻ có khả năng tấn công… phát hiện được nhiều như vậy về những người trong hội kín đó”, ông ngừng lời, để lộ ra mối lo sợ mới. “Chỉ có thể là một thế lực. Việc thâm nhập kiểu này chỉ có thể tiến hành bởi kẻ thù lâu đời nhất của Tu viện Sion”.

Langdon ngước lên: “Giáo hội?”.

“Còn ai khác? Roma cũng tìm kiếm Chén Thánh suốt nhiều thế kỷ nay”.

Sophie hoài nghi: “Ông nghĩ là Giáo hội đã giết ông tôi?”.

Teabing trả lời: “Đây không phải là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội giết người để tự bảo vệ. Những tài liệu đi kèm với Chén Thánh là thùng thuốc nổ, và Giáo hội muốn huỷ chúng từ bao năm nay”.

Langdon cũng thấy khó chấp nhận giả thuyết của Teabing rằng Giáo hội đã trắng trợn giết người để giành được những tài liệu này. Đã tửng gặp Giáo hoàng mới và nhiều vị trong số các hồng y giáo chủ, Langdon biết họ là những con người tâm linh sâu sắc họ ắt không bao giờ dung túng thủ đoạn ám sát.

Bất kể cái được-mất là gì.

Sophie dường như cũng nghĩ vậy: “Không có khả năng những thành viên này bị giết bởi một kẻ nào đó bên ngoài Giáo hội sao? Một ai đó không biết Chén Thánh thực ra là cái gì?

Chiếc Chén của Chúa Jesus, nói cho cùng, vẫn là một vật báu hấp dẫn. Chắn chắn những kẻ săn tìm báu vật đã từng giết người vì những thứ ít đáng giá hơn nhiều”.

“Theo kinh nghiệm của tôi”, Teabing nói, “con người ta sẵn sàng làm những điều ghê gớm hơn nhiều để tránh cái họ sợ hơn là để có cái mà họ mong muốn. Tôi cảm thấy sự tuyệt vọng trong cuộc tấn công này vào Tu viện Sion”.

“Leigh”, Langdon nói, “lập luận này thật nghịch lí. Tại sao những thành viên của giới giáo sĩ Thiên chúa Giáo lại mưu sát những thành viên của Tu viện Sion trong nỗ lực tìm ra và phá huỷ những tài liệu mà dù sao họ cũng tin là bằng chứng giả mạo”.

Teabing cười tủm tỉm: “Tháp ngà của Harvard đã làm anh đâm khờ khạo, Robert. Phải, giới giáo sĩ ở Roma được Chúa ban cho niềm tin mãnh liệt, và chính bởi điều này, tín ngưỡng của họ có thể vượt qua bất cứ cơn dông bão nào, kể cả những tài liệu phủ nhận tất cả mọi thứ mà họ tôn thờ. Nhưng phần còn lại của thế giới thì sao? Những người không được ban cho đức tin tuyệt đối?

Những người chứng kiến sự tàn bạo trên thế giới và lên tiếng, Chúa đang ở đâu? Những người chứng kiến những bê bối của Giáo hội và lên tiếng hỏi, những kẻ mạo xưng là mình nói sự thật về Thiên Chúa thế nhưng lại dối trá để che đậy sự lạm dụng tình dục trẻ em do chính tu sĩ của họ làm, những kẻ đó là ai?”.

Teabing ngừng lại. “Chuyện gì xảy ra với những người đó, Robert, nếu những bằng chứng khoa học đầy sức thuyết phục chỉ ra rằng lời giải thích của Giáo hội về câu chuyện Chúa Jesus là không chính xác và rằng câu chuyện vĩ đại nhất từng được kể, trên thực tế, chỉ là câu chuyện bịp vĩ đại nhất”.

Langdon không đáp.

“Tôi sẽ nói cho các bạn biết chuyện gì xảy ra nếu những tài liệu này lọt ra ngoài”, Teabing nói. “Toà thánh Vatican sẽ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng đức tin chưa từng thấy trong lịch sử suốt hai thiên niên kỷ của mình”.

Sau hồi lâu yên lặng, Sophie nói: “Nhưng nếu Giáo hội phải chịu trách nhiệm về cuộc tấn công này thì tại sao đến bây giờ họ mới hành động? Sau bao nhiêu năm? Tu viện Sion vẫn giấu kín những tài liệu Sangreal. Họ không đem lại sự đe doạ tức thời đối với Giáo hội”.

Teabing trút một tiếng thở dài lo ngại và liếc nhìn Langdon: “Robert, tôi đồ rằng anh biết rất rõ trách nhiệm cuối cùng của Tu viện Sion?”.

Langdon cảm thấy nghẹn thở khi nghĩ đến điều đó: “Tôi biết”.

“Cô Neveu”, Teabing nói, “Giáo hội và Tu viện Sion đã có sự thoả thuận ngầm từ nhiều năm nay. Đó là, Nhà thờ không tấn công Tu viện, và ngược lại Tu viện Sion tiếp tực giữ kín những tài liệu Sangreal”. Ông ngừng lời. “Tuy nhiên, một phần lịch sử Tu viện Sion luôn luôn bao gồm một kế hoạch phơi bày bí mật này.

Đến một ngày cụ thể nào đó trong lịch sử, hội kín này dự định sẽ phá vỡ sự im lặng và hoàn tất thắng lợi cuối cùng của mình bằng cách phơi bày tài liệu Sangreal cho thế giới biết và lớn tiếng công bố câu chuyện thực sự về Jesus cho tất cả mọi người biết”.

Sophie đăm đăm nhìn Teabing trong yên lặng. Cuối cùng, cô ngồi xuống: “Ông nghĩ rằng ngày ấy sắp đến? Và Giáo hội biết thế?”.

“Chỉ là suy đoán thôi”, Teabing nói.”Nhưng chắc chắn nó sẽ tạo động lực cho Giáo hội tiến hành một cuộc tấn công tổng lực để tìm ra những tài liệu đó trước khi quá muộn”.

Langdon có cảm giác không dễ chịu là Teabing có lí: “Ông có nghĩ rằng Giáo hội có khả năng phát hiện ra những bằng chứng về cái ngày đó của Tu viện Sion?”.

“Tại sao không? – Nếu chúng ta cho rằng Giáo hội có thể khám phá ra nhân thân của các thành viên của Tu viện Sion, thì chắc chắn họ cũng có thể biết được kế hoạch này. Và thậm chí nếu không biết thời gian chính xác thì sự dị đoan cũng có thể thắng thế ở họ.

“Dị đoan?” Sophie hỏi.

“Theo lối nói tiên tri”, Teabing nói, “thì hiện nay chúng ta đang ở trong một thời kì của những thay đổi lớn lao. Thiên niên kỉ hai vừa mới trôi qua và cùng với nó là sự kết thúc kỉ nguyên chiêm tinh Song Ngư kéo dài 2000 năm và cũng chính là sao chiếu mệnh của Jesus. Như bất cứ nhà chiêm tinh – ký tượng học nào đều sẽ nói với cô, lý tưởng của cung Song Ngư tin rằng con người cần phải được chỉ bảo những điều cần làm bởi những quyền lực cao hơn vì con người không có khả năng tự suy nghĩ.

Do đó kỉ nguyên Song Ngư là thời kì của lòng nhiệt thành tôn giáo. Tuy nhiên, bây giờ, chúng ta đang bước vào Kỷ của Cung Bảo Bình – người mang nước – lí tưởng cung này cho rằng con người sẽ biết được sự thực và có khả năng tự suy nghĩ cho bản thân. Sự thay đổi về hệ tư tưởng đó rất lớn, và ngay bây giờ sự thay đổi này đang diễn ra”.

Langdon cảm thấy rùng mình. Lời tiên tri của các chiêm tinh chưa bao giờ dành được nhiều sự quan tâm hay tín nhiệm của ông, nhưng ông biết có những người trong Giáo hội rất tin tưởng nó. “Giáo hội gọi giai đoạn chuyển đổi này là Ngày Tận Cùng”.

Sophie có vẻ hoài nghi: “Giống như tận thế? Giống như những sự kiện trong sách Khải Huyền?”.

“Không”, Langdon trả lời, “đó là một quan niệm sai lầm thông thường. Có nhiều tôn giáo nói đến Ngày Tận Cùng. Nó không chỉ sự tận thế, mà chỉ sự kết thúc kỷ nguyên hiện tại của chúng ta – kỷ nguyên Song Ngư, bắt đầu từ khi Christ ra đời, kéo dài 2000 năm, và tàn lụi vào lúc chuyển giao thiên niên kỷ. Bây giờ, khi chúng ta đã bước vào kỷ nguyên Bảo Bình, Ngày Tận Cùng đã đến”.

“Nhiều nhà sử học về Chén Thánh”, Teabing bổ sung, “tin rằng nếu Tu viện Sion quả thật định công bố sự thật thì thời điểm này trong lịch sử sẽ là thời điểm thích hợp mang ý nghĩa tượng trưng. Hầu hết các học giả nghiên cứu về Tu viện Sion, trong đó có cả tôi, đã đoán trước rằng thời điểm hội kín này công bố sự thực sẽ trùng khít với sự chuyển giao thiên niên kỷ. Hiển nhiên là điều đó đã không xảy ra. Phải thừa nhận rằng lịch Roman không khớp hoàn toàn với lịch chiêm tinh, cho nên có một vùng mơ hồ nào đó trong tiên đoán này. Tôi không biết bây giờ Giáo hội đã có thông tin nội bộ về ngày giờ chính xác chưa hay chỉ lo sợ vì lời tiên tri của các nhà chiêm tinh. Dù sao đi nữa, nó vẫn là phi vật chất. Cả hai kịch bản trên đều giải thích động cơ thúc đẩy Giáo hội mờ một cuộc tấn công phủ đầu chống lại Tu viện Sion”. Teabing cau mày. “Và hãy tin tôi đi, nếu Giáo hội tìm thấy Chén Thánh, họ sẽ huỷ nó. Những tài liệu cũng như thánh tích của Mary Magdalene”. Ánh mắt ông trở nên nặng trĩu. “Sau đó, bạn thân mến, cùng với sự tiêu vong của những tài liệu Sangreal, tất cả các bằng chứng cũng sẽ mất theo. Quá khứ sẽ bị xoá sạch vĩnh viễn”.

Chậm rãi, Sophie kéo chiếc chìa khoá hình thập giá khỏi chiếc áo len chui cổ, đưa cho Teabing.

Teabing cầm lấy chiếc chìa khoá, xem xét: “Trời, con dấu của Tu viện Sion. Cô lấy nó ở đâu vậy?”.

“Ông tôi giao lại cho tôi tối nay, trước khi ông chết”.

Teabing rờ ngón tay lên hình chữ thập. “Chìa khoá của một nhà thờ?

Cô hít một hơi sâu: “Chìa khoá này mở đường tới viên đá đỉnh vòm”.

Teabing hất đầu lên, mặt dại đi vì không tin: “Không thể. Tôi đã bỏ sót nhà thờ nào nhỉ? Tôi đã lùng sục mọi nhà thờ tại Pháp!”.

“Nó không ở trong nhà thờ”, Sophie nói. “Nó ở trong một ngân hàng kí thác Thuỵ Sĩ”.

Vẻ kích động của Teabing nhạt đi: “Viên đá đỉnh vòm ở trong một nhà băng?”.

“Một hầm két”, Langdon nói rõ thêm.

“Một hầm két nhà băng?” Teabing lắc đầu thật mạnh.

“Không thể. Viên đá đỉnh vòm phải được giấu dưới dấu hiệu Hoa Hồng”.

“Đúng vậy!” , Langdon nói. “Nó được đựng trong một cái hộp bằng gỗ hồng mộc có khắc bông hồng năm cánh”.

Teabing như bị sét đánh: “Anh đã nhìn thấy viên đá đỉnh vòm?”.

Sophie gật đầu: “Chúng tôi đã đến nhà băng”.

Teabing tiến lại chỗ họ, đôi mắt dại đi vì sợ hãi: “Các bạn của tôi, chúng ta phải làm một điều gì đó. Viên đá đỉnh vòm đang gặp nguy hiểm! Chúng ta có nhiệm vụ phải bảo vệ nó. Ngộ nhỡ có những chiếc chìa khác thì sao? Những chiếc có lẽ đã bị đánh cắp từ những pháp quan bị giết? Ngộ nhỡ Giáo hội có thể vào được nhà băng như các bạn…”.

“Thì đã quá muộn rồi”, Sophie nói. “Chúng tôi đã di chuyển viên đá đỉnh vòm”.

“Cái gì! Các bạn đã đem nó khỏi nơi cất giấu rồi sao?”.

“Đừng lo!”, Langdon nói, “viên đá đỉnh vòm đã được cất giấu an toàn”.

“Cực kỳ an toàn, tôi hy vọng thế?”.

“Thực ra”, Langdon nói, không giấu nổi nụ cười, “điều đó phụ thuộc vào việc ông có thường xuyên quét bụi dưới gầm đi văng của mình hay không?”.

***

Gió bên ngoài Château Villette đã mạnh lên, và chiếc áo chùng của Silas tốc lên trong khi hắn khom người gần cửa sổ. Mặc dầu hắn chỉ nghe được lõm bõm, nhưng từ viên đá đỉnh vòm đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong câu chuyện.

Nó ở bên trong.

Những lời của Thầy Giáo vẫn còn tươi nguyên trong tâm trí hắn. Hãy vào Château Villette. Lấy viên đá đỉnh vòm. Đừng đả thương ai.

Bây giờ, Langdon cùng những người kia đã đột nhiên rời sang một phòng khách tắt đèn phòng làm việc trước khi đi.

Giống như một con báo đang rình mồi. Silas lẻn đến cửa kính.

Cửa không khoá, hắn lẻn vào bên trong và đóng lại lặng lẽ phía sau. Hắn vẫn có thể nghe thấy những tiếng nói bị nghẹt lại từ một phòng khác vẳng tới. Silas rút súng lục khỏi túi, tháo chốt an toàn và lần theo hành lang.

Chú thích:

(1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: chặt đầu

—————————————————————

————————————-


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.